Vật liệu và kết cấu mới
2.1- Đặc điểm vật liệu quyết định giới hạn chịu lực của kết cấu
|
II.1.1 ĐẶC ĐIỂM VẬT LIỆU QUYẾT ĐỊNH GIỚI HẠN CHỊU LỰC CỦA KẾT CẤU Mỗi loại vật liệu có đặc điểm ưu việt khác nhau và tùy theo cách ứng dụng nó ảnh hưởng trực tiếp đến giới hạn chịu lực của kết cấu. Vật liệu dùng để sản xuất ra các bộ phận của kết cấu. Các bộ phận liên kết lại với nhau tạo thành một cấu trúc chịu lực cho công trình. Tùy theo tính chất của vật liệu, cấu kiện kết cấu được sản xuất khai thác một số đặc tính ưu việt nào đó của vật liệu đáp ứng yêu cầu chịu lực tại vị trí nhất định. Tùy theo phương thức và vị trí làm việc các bộ phận kết cấu, vật liệu xây dựng có thể chịu
các yếu tố tác động như:
- Tác động cơ học (chịu lực trọng lượng bản thân, gió, hoạt tải sử dụng, sóng, động đất,
tuyết...)
- Tác động hóa học (xâm thực của môi trường axit (các bể nước thải), nước biển, sinh vật
biển, nước mưa...)
- Các tác dụng khác (áp suất hơi, nhiệt, phóng xạ)
Bên trong vật liệu, khả năng làm việc của vật liệu phụ thuộc các yếu tố như:
- Sự sắp xếp các cấu trúc
- Hàm lượng các thành phần khoáng
- Các liên kết (ion, phân tử, cộng hoá trị...)
- Thành phần pha....
Mỗi tính chất của vật liệu được đặc trưng bởi một đại lượng cụ thể, chúng được xác định bằng các thí nghiệm, hay tính toán dẫn xuất...Việc xác định các tính chất của từng loại vật liệu sẽ được giới thiệu trong môn học về thí nghiệm Vật liệu xây dựng, phần tiếp theo sẽ trình bày các tính chất cơ bản của vật liệu.
Các tính chất cơ lý và hoá lý cơ bản của vật liệu
II.1.2 GIỚI HẠN CHỊU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI VẬT LIỆU
II.1.2.a Vật liệu bê tông cốt thép
Sự kết hợp giữa bê tông và cốt thép xuất phát từ thực tế bê tông là loại vật liệu có cường độ chịu kéo thấp (chỉ bằng từ 1/20 đến 1/10 cường độc chịu nén của bê tông [1]), do đó hạn chế khả năng sử dụng của bê tông và gây nên lãng phí trong sử dụng vật liệu. Đặc điểm này được khắc phục bằng cách thêm vào trong bê tông những thanh 'cốt', thường làm từ thép, có cường độ chịu kéo cao hơn nhiều so với bê tông. 'Cốt' do đó thường được đặt tại những vùng chịu kéo của cấu kiện. Ngày nay 'cốt' có thể được làm từ những loại vật liệu khác ngoài thép như polyme, sợi thủy tinh, hay các vật liệu composite khác... Kết cấu xây dựng bằng cách sử dụng bê tông kết hợp với 'cốt' được gọi chung là 'kết cấu bê tông có cốt' [2]; kết cấu bê tông cốt thép, với 'cốt' là các thanh thép, là loại 'kết cấu bê tông có cốt' lâu đời và được sử dụng rộng rãi nhất trong xây dựng.
BTCT là loại vật liệu xây dựng được sử dụng rộng rãi trong xây dựng dân dụng và xây dựng công trình giao thông. Trong hầu hết các công trình hiện nay, kết cấu BTCT đóng vai trò là kết cấu chịu lực chính cho cả công trình.
II.1.2.b Vật liệu thép
Thép là hợp kim với thành phần chính là sắt (Fe), với cacbon (C), từ 0,02% đến 2,06% theo trọng lượng, và một số nguyên tố hóa học khác. Chúng làm tăng độ cứng, hạn chế sự di chuyển của nguyên tử sắt trong cấu trúc tinh thể dưới tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau. Số lượng khác nhau của các nguyên tố và tỷ lệ của chúng trong thép nhằm mục đích kiểm soát các mục tiêu chất lượng như độ cứng, độ đàn hồi, tính dể uốn, và sức bền kéo đứt. Thép với tỷ lệ cacbon cao có thể tăng cường độ cứng và cường lực kéo đứt so với sắt, nhưng lại giòn và dễ gãy hơn. Tỷ lệ hòa tan tối đa của carbon trong sắt là 2,06% theo trọng lượng ( ở trạng thái Austenit) xảy ra ở 1.147 độ C; nếu lượng cacbon cao hơn hay nhiệt độ hòa tan thấp hơn trong quá trình sản xuất, sản phẩm sẽ là xementit có cường lực kém hơn. Pha trộn với cacbon cao hơn 2,06% sẽ được gang. Thép cũng được phân biệt với sắt rèn, vì sắt rèn có rất ít hay không có cacbon, thường là ít hơn 0,035%. Ngày nay người ta gọi ngành công nghiệp thép (không gọi là ngành công nghiệp sắt và thép), nhưng trong lịch sử, đó là 2 sản phẩm khác nhau. Ngày nay có một vài loại thép mà trong đó cacbon được thay thế bằng các hỗn hợp vật liệu khác, và cacbon nếu có, chỉ là không được ưa chuộng. Xem chi tiết II.1.2.c Vật liệu gỗ
Gỗ là vật liệu thiên nhiên được sử dụng khá rộng rãi trong xây dựng và trong sinh hoạt vì những ưu điểm cơ bản sau: Nhẹ, có cường độ khá cao;cách âm, cách nhiệt và cách điện tốt; dễ gia công (cưa, xẻ, bào, khoan...),vân gỗ có giá trị mỹ thuật cao.
Ở nước ta gỗ là vật liệu rất phổ biến. Rừng Việt Nam có nhiều loại gỗ tốt và quý vào bậc nhất thế giới. Khu Tây Bắc có nhiều rừng già và có nhiều loại gỗ quý như: trai, đinh, lim, lát, mun, pơmu. Rừng Việt Bắc có lim, nghiến, vàng tâm. Rừng Tây Nguyên có cẩm lai, hương ...
Gỗ chưa qua chế biến vẫn tồn tại những nhược điểm lớn:
1, Cấu tạo và tính chất cơ lý không đồng nhất, thường thay đổi theo từng loại gỗ, từng cây và từng phần trên thân cây.
2, Dễ hút và nhả hơi nước làm sản phẩm bị biến đổi thể tích, cong vênh, nứt tách
3, Dễ bị sâu nấm, mục mối phá hoại, dễ cháy.
4, Có nhiều khuyết tật làm giảm khả năng chịu lực và gia công chế biến
khó khăn
Ngày nay với kỹ thuật gia công chế biến hiện đại người ta có thể khắc
phục được những nhược điểm của gỗ, sử dụng gỗ một cách có hiệu quả hơn
như: sơn gỗ, ngâm tẩm gỗ, chế biến gỗ dán, tấm dăm bào và sợi gỗ ép.
II.1.2.d Vật liệu composite
Compsite là vật liệu được tổng hợp nên từ hai hay nhiều loại vật liệu khác nhau, nhằm mục đích tạo nên một vật liệu mới, ưu việt và bền hơn so với các vật liệu ban đầu. Vật liệu composite bao gồm có vật liệu nền và cốt. Vật liệu nền đảm bảo việc liên kết các cốt lại với nhau, tạo cho vật liệu gồm nhiều thành phần có tính nguyên khối, liên tục, đảm bảo cho composite độ bền nhiệt, bền hoá và khả năng chịu đựng khi vật liệu có khuyết tật. Vật liệu nền của composite có thể là polyme, các kim loại và hợp kim, gốm hoặc các bon. Vật liệu cốt đảm bảo cho composite có các mođun đàn hồi và độ bền cơ học cao. Các cốt của composite có thể là các hạt ngắn, bột, hoặc các sợi cốt như sơi thuỷ tinh, sợi polyme, sợi gốm, sợi kim loại và sợi các bon,…Về mặt đặt bài toán của cơ học, người ta còn định nghĩa vật liệu composite là vật liệu mà tính chất của nó phụ thuộc vào toạ độ.
II.1.2.e Vật liệu khác
|