Vật liệu và kết cấu mới
2.2- Mối quan hệ giữa vật liệu và kết cấu với kiến trúc
|
MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT LIỆU VÀ KẾT CẤU VỚI KIẾN TRÚC
Vật liệu ngoài việc tạo nên các bộ phận kết cấu chịu lực cho công trình xây dựng, nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng không gian kiến trúc dưới dạng cấu kiện bao che, trang trí, và tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt trong môi trường kiến trúc.
2.2.1- Vật liệu hoàn thiện trong không gian kiến trúc
Các vật liệu hoàn thiện mới cho công trình xây dựng cũng biến đổi nhanh chóng về chủng loại, mẫu mã hình thức, về chất lượng, về thẩm mỹ, độ bền... cũng như phạm vi sử dụng. Chính vì thế mà vật liệu hoàn thiện trong các công trình xây dựng được đặc biệt chú trọng và đóng vai trò là một thành phần quan trọng tạo nên vẻ đẹp của công trình. Vật liệu hoàn thiện luôn đồng hành với các công trình kiến trúc và phong cảnh kiến trúc định hình. Trong những thập niên cuối thế kỷ XX này, kỹ thuật xây dựng hiện đại và vật liệu xây dựng mới là những yếu tố chính làm nên phong cách sáng tạo kiến trúc của kiến trúc sư. Vật liệu hoàn thiện mới gọp phần tạo nên những ý tưởng sáng tạo, thủ pháp tạo hình mới lạ cho các kiến trúc sư. Phong cách kiến trúc của mỗi kiến trúc sư luôn gắn với một số vật liệu xây dựng nhất định. Nhiều kiến trúc sư ở các nước trên thế giới đã vận dụng rất thành công vật liệu hoàn thiện xây dựng trong thiết kế công trình kiến trúc và đạt hiệu quả cao về tính thẩm mỹ cũng như tính sử dụng và bền vững.
Vật liệu hoàn thiện thực sự đã có tác dụng rất quan trọng đối với tính bền vững và thẩm mỹ công trình, song việc sử dụng chúng như thế nào trong các công trình kiến trúc còn là vấn đề đáng quan tâm. Đó là việc chưa khai thác hết hiệu quả hoặc đã lạm dụng vật liệu một cách máy móc khiến cho công trình không đảm bảo các tiêu chuẩn về sử dụng và an toàn, mà còn tạo ra những công trình kiến trúc có chất lượng thẩm mỹ kém, sử dụng vật liệu hoàn thiện sai vị trí và tính chất sử dụng, tạo ra bộ mặt nội ngoại thất của công trình kiến trúc có tiện nghi, thẩm mỹ kém... Trong đó hiện nay nước ta chưa có một tiêu chuẩn chung cho việc sử dụng vật liệu hoàn thiện cho các công trình kiến trúc xây dựng mà hoàn toàn làm theo "cảm hứng" của người sáng tác.
Công nghệ xây dựng và vật liệu hoàn thiện mới cần phải được vận dụng có khoa học và cụ thể hoá để tạo sự hài hoà giữa các phong cách kiến trúc mới - cũ một cách linh hoạt và đạt được tính thẩm mỹ cao, tạo ra vẻ đẹp của công trình, phù hợp với cảnh quan thiên nhiên và khí hậu của địa phương. Hầu hết các phong cách kiến trúc đều gắn với sự tiến bộ của công nghệ xây dựng và vật liệu hoàn thiện. Có những vật liệu xây dựng và hoàn thiện khi ra đời đã đảo lộn cả quan niệm lẫn phương tiện biểu hiện của kiến trúc. Bê tông cốt thép, kính và thép, vật liệu tổng hợp từ gỗ công nghiệp đến composit... đã là những mốc dấu của kiến trúc từng thời kỳ, đã từng tạo ra nhứng đột phá ngoạn mục cho phong cách kiến trúc. Những ý tưởng kiến trúc theo phong trào như kiểu kiến trúc "vị Italia, Pháp" hay kiến trúc "biểu hiện", kiến trúc "hậu hiện đại", "kiến trúc phi kiến tạo", ... về cơ bản là kiến trúc của những thủ pháp tạo hình mới dựa vào trình độ của công nghệ và VLXD. Kiến trúc "kỹ thuật cao" là của công nghệ xây dựng hiện đại và vật liệu mới.
Để xây dựng nhiều loại hình kiến trúc, khâu đầu tiên cần phải làm là sáng tạo và sản xuất các loại VLXD hoàn thiện. Có loại vật liệu hoàn thiện dùng và sản xuất các loại VLXD hoàn thiện. Có loại vật liệu hoàn thiện dùng chung cho các loại hình công trình kiến trúc, có loại chỉ dùng riêng cho một loại hình hoặc từng vị trí, bộ phận nhất định của công trình kiến trúc. Tạo dáng kiến trúc có đẹp hay không, kiến trúc có bền vững hay không một phần quan trọng phụ thuộc vào vật liệu hoàn thiện. Sử dụng vật liệu hoàn thiện thể hiện được trình độ sáng tạo, tài năng thẩm mỹ và kỹ thuật liên kết. Từ những nguyên vật liệu gốc có thể sử dụng ngay hoặc qua khâu gia công, sáng tác để tạo ra nhiều hình thức, hình tượng trang trí, cách liên kết.
Trải rộng trong không gian và kéo dài theo thời gian, những công trình kiến trúc dù có hình thức, chức năng, nội dung sử dụng khác nhau nhưng khởi nguyên đều bằng những nguyên liệu có nguồn gốc bản địa. Từ đá, gỗ, gạch đến các vật liệu hoàn thiện hơn đều được xây dựng qua quá trình con người làm chủ được thiên nhiên, biến nguyên liệu thành công trình và tác phẩm nghệ thuật với kinh nghiệm chắc lọc, kế thừa, tiếp thu những sáng tạo và KHKT mới.
Ngày nay muốn khẳng định bản sắc kiến trúc của mình, người ta nói về kiến trúc bản địa. Kiến trúc bản địa có nghĩa là truyền thống văn hoá và vật liệu truyền thống địa phương. các vật liệu truyền thống có tính đặc thù theo từng vùng, miền song đều đáp ứng đòi hỏi về kỹ thuật lắp dựng, đảm bảo tính bền chắc, thẩm mỹ cho công trình. Việc sử dụng vật liệu có truyền thống từ lâu đời và được nhìn nhận như thành tố hình thành tính đa dạng của công trình. Vật liệu hoàn thiện truyền thống không chỉ có chức năng bao che mà còn làm đẹp và dễ nhận thấy nhất từ mặt đứng công trình. Nhưng với các sản phẩm vật liệu hoàn thiện mới đa dạng hiện nay, việc sử dụng vật liệu hoàn thiện mới không chỉ dùng trong các công trình hiện đại mà được phổ biến rộng rãi đối với các công trình kiến trúc có bản sắc địa phương, các công trình kiến trúc cũ cần tu bổ và nâng cấp nhằm thay thế vật liệu truyền thống.
Các công trình kiến trúc xây dựng ởnước ta hiện nay đã ứng dụng tiến bộ KHKT mới trong việc sử dụng vật liệu hoàn thiện mới làm thay đổi tư duy cũ và cách cảm nhận thẩm mỹ đối với công trình kiến trúc. Tuy vậy, các công trình kiến trúc nói chung vẫn chưa đạt được những yêu cầu về chất lượng thẩm mỹ kiến trúc, đó là vì:
- Trình độ dân trí, trình độ kiến trúc sư còn hạn chế làm giảm chất lượng công trình kiến trúc.
- Quy hoạch đô thị còn thiếu quy hoạch chi tiết đến cách sử dụng vật liệu, màu sắc, sự phối hợp giữa kiến trúc và cảnh quan.
- Sự lộn xộn về tổ hợp khối trên mỗi tuyến phố, trục đường, thì dù đắp lên mỗi ngôi nhà vật liệu hoàn thiện gì đi chăng nữa cũng không thể có được một cảnh quan kiến trúc có chất lượng nghệ thuật được.
- Các nước phát triển đã bỏ xa chúng ta về công nghệ, kỹ thuật, vật liệu hoàn thiện công trình. Vấn đề áp dụng công nghệ cao, vật liệu mới để hoàn thiện bề mặt mỗi toà nhà vào Việt Nam là điều khó. Do vậy, chúng ta không có công trình kiến trúc mang tính đột phá, điểm nhấn, tạo nên dấu ấn của thời đại...
Vật liệu hoàn thiện cho thấy độ tinh tế, chất cảm thẩm mỹ của người kiến trúc sư, vì vậy việc khuyến khích sử dụng vật liệu địa phương để tạo lập các công trình kiến trúc có tính đặc thù có chất lượng nghệ thuật ở mỗi vùng là điều khả thi có thể làm được. Ví dụ như gạch đỏ bát Tràng, gạch gốm Giếng Đáy làm ấm lên các không gian như một hoài niệm kiến trúc. Một bức tường đá ong làm ta nhớ đến miền dân dã trung du,...
Nhưng sử dụng vật liệu hoàn thiện không đúng chỗ, không hợp gu lại làm hỏng sáng tạo kiến trúc. Không ít các công trình kiến trúc trở nên ngô nghê hay kệch cỡm chỉ chỉ vì dùng vật liệu không đúng chỗ, không đúng chất liệu phải có. Ví dụ, những nhà mặt phố ốp gạch men kính xa lạ, những toà nhà toàn dùng kính nhôm dưới ánh sáng mặt trời chói chang, những mảng tường sơn màu đỏ hoặc đen phản cảm với không gian xung quanh,...
Nói tóm lại, vật liệu hoàn thiện có ngôn ngữ biểu hiện riêng, có ngữ nghĩa tự bản thân. Không hiểu được tiếng nói của vật liệu hoàn thiện thì từ cái sang trọng, đắt tiền sẽ trở thành trọc phú, kệch cỡm, cái bản sắc dân dã sẽ biến thành dễ dãi cẩu thả, cái hoa mỹ tinh tế sẽ thành cái rườm rà phô trương. Nghe và hiểu được tiếng nói của vật liệu hoàn thiện xây dựng để cùng sử dụng chúng có hiệu quả nhất vào các công trình kiến trúc, tạo nên những tác phẩm kiến trúc đẹp, có chất lượng và hợp lý trong sử dụng và kiến thức cần thiết đối với kiến trúc sư và nhà đầu tư.
Lối kiến trúc này được phát triển ở kiến trúc phương Tây, đặc biệt vào thời Hy Lạp cổ đại, đề cao sự hợp lý về mặt kết cấu và đường lối kiến trúc được thể hiện trên chính hệ thống kết cấu đó. Công trình tiêu biểu cho lối kiến trúc vào thời gian này là đền thờ Pathenon, Athens, Hy Lạp.
Đặc điểm nổi bật dễ nhận thấy ở lối kiến trúc này là những yêu cầu về mặt chịu lực quyết định nên hình dạng của công trình. Ở đền thờ Pathenon, hệ thống cột dầm (post-and-beam arrangement), gần giống với hệ thống khung của kết cấu hiện đại, tạo nên hệ thống chịu lực cho công trình. Đường lối kiến trúc được thể hiện trên hệ thống cột Doric với những đường cong điêu khắc, bù trừ với hiệu ứng quang học khi nhìn lên phía trên đền, tạo nên vẻ cân đối và một cái nhìn thật về nó. Tuy nhiên lối kiến trúc này đã biến mất sau đó vì người ta muốn tách kiến trúc ra với vẻ đẹp riêng thể hiện bên ngoài, và hệ thống kết cấu chịu lực chỉ thể hiện đúng vai trò của chính mình – chịu lực.
Bước sang thế kỉ XX, với sự phát triền của vật liệu xây dựng, đặc biệt là sự ra đời của thép là sự giải phóng và là bước nhảy vọt về kết cấu cũng như kiến trúc. Những công trình mang tính đặc thù mà những ý tưởng kiến trúc không thể tách bạch và được thể hiện trên kết cấu như hệ thống vòm, lối kiến trúc này đã trở lại như một điều tất yếu, tiêu biểu là trạm ga Rail Terminal ở Waterloo Station, Anh quốc, với hệ thống vòm chịu lực được cấu thành từ các đa diện.
2.2.2- Cấu trúc chịu lực tạo nên hình thái kiến trúc.
Không giống như nhữngcông trình kiến trúc loại 1, khi hệ thống kết cấu được trang trí bằng vẻ đẹp bên ngoài, quá trình thi ết kế hướng đến vẻ đẹp bên ngoài hơn là sự sáng tạo về khoa học, điều này làm cho những công trình kiến trúc loại này dưới góc độ kỹ thuật không được đánh giá cao, đây cũng là sự khác biệt giữa lối kiến trúc đầu tiên và hình thức thứ 2 – vẻ đẹp của kết cấu.
Hình thái kiến trúc “vẻ đẹp của kết cấu” cũng được chia thành 3 loại.
Loại thứ nhất mang tính “symbolically” (biểu tượng), đặc biệt thường lấy biểu tượng của công nghệ hàng không. Công trình tiêu biểu là vòm cổng chào của trụ sở Lloyds, được cấu tạo từ những cấu kiện thép cong, tạo nên những lỗ lấy sáng dựa trên cảm hứng từ cấu tạo của thân máy bay.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Loại thứ hai được gọi là “artificially created circumstances” (tạm dịch: các trường hợp nhân tạo), tạo ra thêm hệ kết cấu không cần thiết thay vì dùng hệ kết cấu khung dầm cột bình thường, như dùng hệ dầm có đầu mút thừa để giảm độ võng, và cũng chính điều này tạo nên sự khác biệt so với các công trình khác. Công trình tiêu biểu cho loại này là trung tâm Pompidou ở Pháp.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Hệ kết cấu đỡ sàn cho công trình là hệ dàn, nhưng có 2 đầu thừa gọi là “Gerberette Bracket”, phần trong liên kết khớp với cột, phần ngoài liên kết với thanh chống đứng gọi là “vertical tie rods”. Với dạng kết cấu này, do dàn có hai đầu mút thừa, nên sẽ võng ít hơn, nhưng bù lại các thanh chống đứng liên kết với các đầu mút này, sẽ truyền ứng suất kéo xuống móng, nên chi phí sẽ lớn hơn so với dạng kết cấu thông thường. Được thứ này, mất thứ khác, nhưng cũng là một phương án hay và độc đáo phải không bạn?
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Loại thứ 3 cũng gần giống với dạng kết cấu thứ 2, gọi là “incompatible with structural logic”, tạm dịch là “kết cấu phản logic”, nhưng điểm khác biệt ở chỗ loại kết cấu này dựa vào kiến trúc để lựa chọn phương án kết cấu. Công trình tiêu biểu cho dạng kiến trúc này là trụ sở Lloyds ở Anh.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Đặc trưng của công trình này là có một lõi ở giữa, cùng với đây là dạng nhà cao tầng, nên ảnh hưởng của hiện tượng xoắn do lệch tâm khi chịu tải trọng là lớn, thay vì dùng hệ thống dầm như thời bấy giờ, công trình sử dụng một hệ thống gần giống các giằng như trung tâm Pompidou với 8 cột bố trí ở lõi để giảm momen xoắn, nhưng sự khác biệt là có chịu ảnh hưởng của nhu cầu về mặt kiến trúc (không khuyến khích việc sử dụng hệ thống dầm). Về sau, hệ thống này đã được thay thế và hoàn thiện bằng vách cứng chịu lực như trong các công trình nhà cao tầng ngày nay.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Với những công trình theo đường lối “vẻ đẹp kết cấu” này, mang những thông điệp rất rõ ràng, không phải vì những kĩ sư/kiến trúc sư thiếu khả năng, mà họ muốn đưa ra một góc nhìn khác-một góc nhìn mang đậm tính kỹ thuật, nhưng vẫn phù hợp với chức năng của công trình, và vẫn luôn đứng vững theo thời gian.
Người ta thấy rằng với những dạng công trình quá thiên về mặt kỹ thuật, kiến trúc sư bị giới hạn về khả năng của mình, thì sự ra đời của lối kiến trúc thứ 3 này sẽ giúp người kiến trúc sư đưa ra ý tưởng và người kỹ sư tạo nên hệ thống chịu lực cho nó, với sự trợ giúp đắc lực của ngành công nghệ vật liệu: bê tông cốt thép và thép. Hàng loạt các công trình độc đáo đã ra đời và là biểu tượng cho nơi nó được sinh ra. Những công trình loại này thường là những nhà nhịp lớn (long-span building), những nhà cao tầng (tall building) hay những công trình nhẹ, có thể dời đi (lightweight buiding), đòi hỏi sự kết hợp và đồng bộ cực cao của kiến trúc sư và người kỹ sư kết cấu. Đây chính là trào lưu của thời đại mới.
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra: thế nào là nhịp lớn? Câu trả lời đó là: những công trình có khoảng cách cột theo phương ngang lớn (thường lớn hơn 40m), nhằm hạn chế số lượng cột bên trong nhà để đảm bảo điều kiện sử dụng, và không thể sàn xuất hàng loạt và thống nhất, đó gọi là nhịp lớn. Nhà nhịp lớn chủ yếu chịu những tải trọng về mặt tự nhiên như tải trọng bản thân, tải trọng gió, động đất,… nên dạng kết cấu ngày nay được chọn thường là kết cấu dàn, vòm với thanh căng. Kết cấu nhịp lớn trước thời đại công nghiệp thường là gỗ, và do gỗ khó liên kết lại với nhau nên và cường độ không phù hợp nên kết cấu nhịp lớn ít được dùng vào thời đại này. Tuy nhiên với sự phát triển của bê tông cốt thép và thép, sự hiểu biết về khả năng làm việc hợp lý của các đa giác, nhà nhịp lớn đã có chìa khoá để phát triển. Công trình thường là các hanga máy bay, các nhà triển lãm hoặc sân vận động, các giải pháp kiến trúc sẽ giải quyết tính thẩm mỹ và đặc trưng của công trình. Ví dụ tiêu biểu là xưởng chứa máy bay Red Bull’s Austrian Wing ở Áo và sân vận động Wembley ở Anh.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Nếu được chọn đâu là loại công trình kiến trúc tiêu biểu của xã hội hiện đại, chắc chắn nhà cao tầng (Tall Building) sẽ đứng đầu danh sách. Nhà cao tầng ra đời để giải quyết hàng loạt các vấn đề về mặt xã hội, cũng như thể hiện khát vọng vươn lên của con người. Đặc điểm nổi bật về mặt kết cấu của nhà cao tầng là chịu tải trọng động (gió động và động đất), việc đầu tiên là người kỹ sư phải giải quyết vấn đề chịu lực và ổn định cho công trình, và kiến trúc được sinh ra cùng với kết cấu như “người anh em song sinh”, thể hiện mức độ phát triển về cả không gian và thời gian của xã hội. Một số công trình tiêu biểu là các tòa nhà như Burj Khalifa, Bitexco ở thành phố Hồ Chí Minh và Taipei ở Đài Loan.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Toà nhà cao nhất thế giới-Burj Khalifa ở Dubai
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Biểu tượng của thành phố Hồ Chí Minh-toà nhà Bitexco, với ý tưởng từ búp sen đang nở rộ
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Taipei 101 với hệ quả cầu sắt làm hệ thống hãm (Tuned Mass Damper)
Những dạng công trình loại này có đặc điểm là trọng lượng kết cấu được giảm tối thiểu và được thiết kế để dễ dàng tháo lắp, để vận chuyển từ nơi này đến nơi khác. Những khu triển lãm tạm thời đòi hỏi những tính chất này. Công trình tiêu biểu là nhà triển lãm IBM Europe được thiết kế bởi Renzo Piano vào cuối thế kỉ 20.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Hệ kết cấu chính là các thanh gỗ sồi được dát mỏng, và chúng được liên kết với nhau bởi hệ thống các chóp kim tự tháp từ polycarbonate, những cấu kiện này được chốt lại bằng các dải liên kết làm từ nhôm. Hệ kết cấu này mang 2 đặc điểm đặc trưng của Lightweight Building: vật liệu nhẹ và được cấu tạo từ những hình dạng dễ liên kết nên cũng dễ tháo lắp. Hầu hết các công trình ở dạng này, kiến trúc được xem như một giải pháp giúp làm mềm mại hơn khi mà yếu tố kết cấu được đặt lên trên, đặc biệt là công trình nhịp lớn, đã tạo nên tính thẩm mỹ cực cao mà vẫn đảm bảo yêu cầu về cường độ và điều kiện sử dụng.
Một hình thái kết cấu mới được sinh ra, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hình dáng, và ảnh hưởng qua lại với yếu tố kiến trúc, nhu cầu sử dụng của công trình, hệ sàn phẳng là ví dụ điển hình. Công trình đặc trưng là Văn phòng Willis Faber và Dumas ở Ipswich, Anh, 1974.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Dễ thấy những dạng công trình này phù hợp với kiến trúc cần không gian không bị hạn chế bởi hệ thống dầm (tăng được chiều cao tầng) và có thể sử dụng để làm sảnh đón hoặc phòng triển lãm.
Bạn hãy hình dung một công trình không tính đến kết cấu thậm chí ngay từ khi ý tưởng còn manh nha, sự sáng tạo của kiến trúc sư được đẩy lên đến mức cao nhất, mà không bị giới hạn bởi vật liệu hay tính toán kết cấu truyền thống. Những dạng công trình này thường mang tính đặc trưng và thẩm mỹ với hình dáng đặc biệt, ở một khía cạnh nào đó, đặc biệt hơn tất cả những dạng công trình kiến trúc còn lại. Công trình tiêu biểu cho dạng này là công trình biểu tượng cho Sydney và cho cả nước Úc – nhà hát Opera Sydney.
Mối quan hệ giữa kiến trúc và kết cấu trong thiết kế - Tạp Chí Designer Việt Nam
Được thiết kế bởi kiến trúc sư Utzon, lấy ý tưởng từ cánh buồm no gió ra khơi, “Công trình này thật táo bạo và là một sự thử nghiệm có tầm nhìn rộng lớn đã có ảnh hưởng lâu dài trên các lối kiến trúc cuối thế kỷ 20. Kiến trúc của tòa nhà là một di tích và là một hình tượng nghệ thuật độc đáo”, đó là nhận xét của UNESCO dành tặng cho nhà hát Opera Sydney, đã nói lên tất cả giá trị của công trình này, với hệ móng gồm 580 cột bê tông đóng sâu 25m dưới mực nước biển, nhà hát được lợp bằng hàng viên ngói sản xuất tại Thụy Điển, có khả năng tự làm sạch bề mặt và được thiết kế để gió biển có thể thổi vào bên trong giúp điều hòa nhiệt độ một cách tự nhiên, chỉ càng khẳng định khả năng không giới hạn của con người.
Trên thế giới còn rất nhiều công trình nổi tiếng khác, mà trong giới hạn khuôn khổ bài viết, chưa thể đề cập tới. Nhưng dù đôi khi đôi bên vẫn có mâu thuẫn và xung đột, thì ở công trình nào loại hình kiến trúc nào đi nữa, sự phối hợp giữa vẻ đẹp nghệ thuật và sự chắc chắn về mặt kết cấu là không thể tách rời, để cái đẹp không mong manh và bền vững theo thời gian.
|